Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026) - Nguyễn Ái Quốc và quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày đăng: 02/02/2026 08:38
Hôm nay: 0
Hôm qua: 0
Trong tuần: 0
Tất cả: 0
Ngày đăng: 02/02/2026 08:38
Đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Sự thất bại của phong trào Cần vương và sự bế tắc của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, dân chủ tư sản như Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội… cho thấy con đường cứu nước và giải phóng dân tộc theo lối cũ đã không còn phù hợp với yêu cầu lịch sử.
Từ đầu thế kỷ XX cho đến cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất, người được xem là đã “… làm một cuộc cách mạng trong làng Nho”[1], đó chính là Phan Bội Châu. Phan Bội Châu đã từng kiên trì bạo động, đã từng tuyên truyền, cải cách… miễn sao giành lại độc lập cho non sông đất nước, nhưng cuối cùng đều thất bại. Lúc ấy lịch sử đặt ra với dân tộc ta là một thử thách thật khắc nghiệt. Chính trong hoàn cảnh đó, sự xuất hiện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và việc Người tìm ra con đường cách mạng vô sản đã trở thành bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh lịch sử dân tộc ta.
1. Từ khủng hoảng đường lối cứu nước đến con đường cách mạng vô sản
Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc ra đi ấy không chỉ là hành trình địa lý mà trước hết là một hành trình tư tưởng, bắt nguồn từ thực tiễn bế tắc của các phong trào yêu nước đương thời. Những nỗ lực cải cách, bạo động hay cầu viện bên ngoài đều lần lượt thất bại, cho thấy con đường giải phóng dân tộc theo lối cũ không còn phù hợp.
Ánh sáng mà Nguyễn Ái Quốc tìm thấy chính là ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và chủ nghĩa Mác - Lênin. Qua thực tiễn hoạt động trong phong trào công nhân và phong trào xã hội chủ nghĩa ở Pháp, đặc biệt từ khi tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc nhận ra rằng chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức. Những tác phẩm như Người cùng khổ, Bản án chế độ thực dân Pháp không chỉ là tiếng nói tố cáo chủ nghĩa thực dân mà còn là những hạt giống đầu tiên kết hợp chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chuẩn bị về tư tưởng cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Lịch sử đặt ra một câu hỏi căn bản: Ai là lực lượng có khả năng tiếp thu và hiện thực hóa lý tưởng cách mạng vô sản ở Việt Nam? Cũng như hạt giống chỉ nảy mầm trên mảnh đất thích hợp, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ có thể bén rễ trong những lực lượng xã hội mang sứ mệnh lịch sử mới.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930. Ảnh tư liệu
Một câu hỏi lớn đặt ra là trong bối cảnh như vậy ai là những người tiếp thu lý tưởng cách mạng mới ấy? Người tiếp thu lý tưởng mới ấy tất nhiên không phải là những sĩ phu trái mùa trong “làng nho”[2], cũng không phải là tầng lớp tư sản mới hình thành, mà về căn bản, phải là những người đương mang một sứ mệnh của lịch sử, xây dựng xã hội người không bóc lột người. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, không ai khác là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người “làm cuộc cách mạng trong tân nho, tôi (Trần Văn Giàu - TG) muốn nói trong làng Tây học, đó là Nguyễn Ái Quốc”[3].
Điều đó cho thấy, khác với các sĩ phu Nho học hay tầng lớp tư sản dân tộc còn non yếu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người sớm vượt lên những giới hạn của thời đại để tiếp thu một hệ tư tưởng cách mạng khoa học và triệt để.
2. Sự hình thành của giai cấp công nhân và vai trò của trí thức tiểu tư sản
Trong quá trình Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam cũng từng bước hình thành và phát triển. Qua cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, số lượng công nhân còn ít, trình độ tập trung thấp, ý thức giai cấp chưa rõ rệt. Phải đến sau Chiến tranh thế giới thứ Nhất, cùng với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân mới phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Khoảng hơn 22 vạn công nhân[4] vào năm 1930 và những cuộc đấu tranh từ 1920 đến 1925 cho thấy giai cấp công nhân Việt Nam đã chuyển từ giai cấp tự nó sang giai cấp vì nó.
Bên cạnh giai cấp công nhân, tầng lớp trí thức tiểu tư sản - đặc biệt là trí thức thành thị - giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc tiếp thu và truyền bá tư tưởng cách mạng mới. Họ là những nhà giáo, công chức nghèo, người làm nghề tự do, sinh viên, học sinh… những người sớm chịu ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiến bộ và sẵn sàng dấn thân vào con đường cách mạng. Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn đầu, lực lượng trí thức tiểu tư sản chính là cầu nối đưa chủ nghĩa Mác - Lênin đến với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, tháng 12-1920. Ảnh tư liệu/congan.com.vn
Nắm vững quy luật vận động của cách mạng Việt Nam, năm 1925, trong điều kiện và hoàn cảnh, tình thế lúc bây giờ, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Đây là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và chuẩn bị về tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
Thành phần chủ yếu của Hội là trí thức tiểu tư sản có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện lịch sử cụ thể khi ấy, việc lấy thanh niên - đặc biệt là thanh niên tiểu tư sản - làm lực lượng nòng cốt là một lựa chọn đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đến giữa năm 1929, khi phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ, yêu cầu thành lập một chính đảng cộng sản trở thành đòi hỏi tất yếu của lịch sử.
3. Hợp nhất các tổ chức Cộng sản và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản vào năm 1929 phản ánh bước phát triển mới của phong trào cách mạng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ tình trạng phân tán, thiếu thống nhất về tổ chức và lãnh đạo. Thực tế lúc bấy giờ: “Nếu không thành lập ngay một Đảng Cộng sản, dù công khai hay bí mật, thì không thể tập hợp được quần chúng đấu tranh dưới ngọn cờ của giai cấp vô sản được…”[5]. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải có một chính đảng cộng sản thống nhất trên phạm vi cả nước, làm “bộ tham mưu”[6] duy nhất cho cách mạng Việt Nam.
Trong bối cảnh ấy, vai trò của Nguyễn Ái Quốc trở nên nổi bật. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lại nổi bật lên khi 3 tổ chức cộng sản ra đời, cùng song song tồn tại, thiếu sự nhất trí trong lãnh đạo, chỉ đạo, gây trở ngại cho phong trào cách mạng Việt Nam đang lên mạnh mẽ. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho cách mạng Việt Nam là phải có một chính đảng cộng sản của giai cấp công nhân thống nhất trong cả nước. Thực tế lịch sử Việt Nam khi ấy, đòi hỏi phải có một chính Đảng Cộng sản duy nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ dân tộc, dân chủ tiến lên xã hội chủ nghĩa.
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị công phu về tư tưởng, chính trị và tổ chức, đồng thời là sự đáp ứng đúng lúc yêu cầu bức thiết của lịch sử. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, với tư duy lý luận sắc bén và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của phong trào công nhân quốc tế, tạo điều kiện để Đảng Cộng sản Việt Nam sớm thống nhất về tổ chức và đường lối. Chính đặc điểm này đã giúp Đảng, ngay từ khi ra đời, có được nền tảng tư tưởng vững chắc, gắn bó chặt chẽ giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với lý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Kết luận
Từ năm 1925 đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ngày 3-2-1930, và kể từ đó, Đảng đã từng bước lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng nhằm đánh đổ ách thống trị của thực dân và phong kiến, đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để đi đến thống nhất nước nhà, là cả một quá trình 30 năm (1945-1975) gian khổ, hào hùng của lịch sử Việt Nam. Lịch sử đấu tranh do Đảng Cộng sản Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam[7], gắn liền với vai trò lịch sử của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta.
Con thuyền cách mạng Việt Nam trải qua bao sóng gió vẫn nổi bật lên người lái thuyền, từ mái tóc xanh đến đầu bạc trắng, rất vững tay, rất nhanh tay đưa chiếc thuyền đến bến bờ vinh quang, ngày nay khi Đảng ta vừa tròn 96 năm (1930-2026) trường tồn cùng dân tộc, trong kỷ nguyên mới của dân tộc có một ý nghĩa lịch sử rất lớn.
Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026), trong không khí hào hùng, phấn khởi cả nước tưng bừng đón chào thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam, từ đó khẳng định ý nghĩa, giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (Hồ Chí Minh), như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn.
[1] Trần Văn Giàu, Kết luận Hội thảo khoa học về Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, in trong “Kỷ yếu Hội thảo khoa học về cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc”, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp xuất bản, 1990, tr.274.
[2] Nguyên văn là lời GS Trần Văn Giàu: “Sở Mật thám nói rằng Ông Sắc (Nguyễn Sinh Sắc) làm một cuộc cách mạng trong làng Nho. Hãy trả lại nhận xét ấy cho nó. Không phải đâu. Nếu từ đầu thế kỷ cho đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất mà có ai đã làm một cuộc cách mạng trong làng Nho, đó là cụ Phan Bội Châu…” (dẫn theo: Kỷ yếu Hội thảo khoa học về cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tr.274).
[3] Trần Văn Giàu, Kết luận Hội thảo khoa học về Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Sđd, tr.275.
[4] Số công nhân tại các xí nghiệp kỹ nghệ và thương mại là non 9 vạn người; công nhân nông nghiệp non 9 vạn người, công nhân khai mỏ hơn 5 vạn người. Tổng cộng trên 22 vạn người. Trần Huy Liệu, Lịch sử tám mươi năm chống Pháp in trong Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, tr.250.
[5] Ngô Gia Tự tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, tr.82.
[6] Trong bối cảnh khó tiến tới thành lập một chính Đảng thống nhất tách ra từ “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” (Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng), hay giữa “Hội Thanh niên” với Tân Việt Cách mạng Đảng (sau là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) đã rất nhiều lần tìm cách “hợp nhất”; thậm chí đến Hội nghị (Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên họp ở Hương Cảng (Trung Quốc), đầu tháng 5-1929, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đã đề nghị: “Nếu không thành lập ngay một Đảng Cộng sản, dù công khai hay bí mật, thì không thể tập hợp được quần chúng đấu tranh dưới ngọn cờ của giai cấp vô sản được”. Không được Đại hội chấp nhận, tức thì, ba đại biểu là Trần Văn Cung, Ngô Gia Tự và Nguyễn Văn Tuân “tuyên bố thoát ly Đại hội” bỏ hội nghị ra về (dẫn theo: Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam, Hà Nội, 1961, tr.117).
[7] Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.19.
Trang Thông tin điện tử Viện Sử học